Các quy định đối với nền kinh tế phi thị trường và sự tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ kiện chống bán phá giá 16-02-2016

Các quy định đối với nền kinh tế phi thị trường và sự tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ kiện chống bán phá giá

 Lời dẫn

Trong các Hiệp định WTO không có định nghĩa hay quy định nào về nền kinh tế phi thị trường. Tuy nhiên, Hoa Kỳ, EU và một số nước thành viên khác có quy định riêng trong quá trình xây dựng nội luật của mình liên quan đến vấn đề này. Khi đàm phán gia nhập WTO, theo yêu cầu của một số thành viên, đặc biệt là Hoa Kỳ, Việt Nam chấp nhận cam kết là nước có nền kinh tế phi thị trường cho đến năm 2018, nhưng điều này không có nghĩa mặc nhiên sau năm 2018 Việt Nam sẽ được coi là nước có nền kinh tế thị trường. Vấn đề kinh tế phi thị trường có ảnh hưởng lớn tới quá trình tính toán biên độ phá giá trong vụ việc điều tra. Khi một quốc gia bị coi là có nền kinh tế phi thị trường, cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá trị của một nước thứ ba (surrogate country) để tính toán giá trị thông thường (normal value) cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Điều này làm cho biên độ phá giá không được chính xác và dẫn đến thuế chống bán phá giá áp dụng đối với hàng xuất khẩu thuộc diện bị điều tra áp thuế chống bán phá giá của Việt Nam tăng cao, không công bằng và không đúng với thực chất vốn có của các giao dịch thương mại. Trong bối cảnh các vụ điều tra chống bán phá giá ngày càng gia tăng và có xu hướng phức tạp, các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu những mức thuế chống bán phá giá cao do Việt Nam bị đối xử là nền kinh tế phi thị trường, bài viết này đề cập đến các vấn đề sau: khái quát chung về  vấn đề kinh tế phi thị trường; các quy định đối với nền kinh tế thị trường của các nước; tác động của việc bị đối xử là nước có nền kinh tế phi thị trường đến các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ việc chống bán phá giá; và một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài.

I.              Khái quát chung về vấn đề kinh tế phi thị trường

Nền kinh tế phi thị trường (non-market economy – “NME”)  là tên gọi được sử dụng cho các nền kinh tế của các nước thuộc Trung và Đông Âu, Liên Xô (trước đây), Trung Quốc, Việt Nam và một số nước vào những năm cuối 1980 đầu 1990.[1] Ở các nền kinh tế đó, nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm do một cơ quan chuyên trách của Nhà nước soạn thảo và được coi là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Các nền kinh tế này hầu hết đã hoặc đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hay còn gọi là đang trong thời kỳ quá độ chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường.

1.     Sự hình thành quy định đối với nền kinh tế phi thị trường

Năm 1947, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), nền tảng hình thành hệ thống thương mại đa phương lớn nhất thế giới, được ký kết bởi 23 thành viên và được xem là tạo ra bởi các nước có nền kinh tế thị trường và hoạt động theo nguyên tắc kinh tế thị trường. Tại Điều VI của Hiệp định GATT[2] 1947 quy định về việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào các nước thành viên tham gia hiệp định.[3] Trong quá trình thực thi Hiệp định GATT, các thành viên cho rằng khái niệm bán phá giá được diễn giải không áp dụng đối với các nước thuộc khối Xô viết, Trung Âu và Đông Âu.[4] Lý do bởi những nước đó được cho là có nền kinh tế kế hoạch tập trung. Tại những nước này, giá cả được ấn định bởi nhà nước và không phản ánh đúng quan hệ cung cầu, ngoại thương được thực hiện theo các kế hoạch kinh tế quốc gia, tiền tệ cũng không có tính tự do chuyển đổi.

            Nhằm xử lý những vấn đề thương mại phát sinh, Điều VI của Hiệp định GATT đã được bổ sung điểm thứ 2, đoạn 1.[5] Đây có thể được xem là khởi đầu của sự phân biệt đối xử giữa việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá của một nước thành viên GATT đối với một nước có nền kinh tế thị trường và nước có nền kinh tế phi thị trường thông qua khả năng “so sánh chặt chẽ” giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường. Do điểm bổ sung này không nêu rõ sự diễn giải quy định cũng như không quy định rõ cách thức áp dụng, nên các thành viên đã có sự tùy ý trong việc dự thảo nội luật của mình. Do vậy, các thành viên đã có sự tuỳ ý trong quá trình xây dựng nội luật, thể hiện ở hai khía cạnh:

(i)             Không có bất kỳ một định nghĩa hay một tiêu chí pháp lý nào đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường, các cơ quan điều tra có thể xây dựng những quy định nội luật khác nhau về nước có nền kinh tế phi thị trường trong từng vụ việc cụ thể và đưa ra những danh sách những nước có nền kinh tế phi thị trường.

(ii)            Các cơ quan điều tra được tự do thiết lập các phương pháp thay thế lựa chọn để xác định giá trị thông thường cho những nước có nền kinh tế phi thị trường.

Khi Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập năm 1994, Hoa Kỳ và Cộng đồng Châu âu (hiện giờ là Liên minh Châu Âu - EU), dựa trên quy định không rõ ràng của WTO về đối xử đối với nền kinh tế phi thị trường trong các vụ việc điều tra chống bán phá giá, đặt ra các yêu cầu đàm phán đối với các nước đàm phán gia nhập có nền kinh tế đang chuyển đổi phải chấp nhận chính thức hóa quy định này trong văn kiện gia nhập. Theo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) của WTO, khi vấn đề đối xử đối với nền kinh tế phi thị trường đã được chính thức hóa trong văn kiện gia nhập, các thành viên khác đều có thể đối xử phân biệt tương tự đối với các thành viên mới gia nhập.

Như vây, có thể nói vấn đề kinh tế phi thị trường xuất phát từ điểm bổ sung đối với điều VI của GATT 1947 và đã trở thành sự phân biệt đối xử rõ ràng giữa các thành viên của GATT và sau này là WTO đối với những nước bị coi là có nền kinh tế phi thị trường như Việt Nam và Trung Quốc.

2.     Cam kết của Việt Nam liên quan đến vấn đề kinh tế phi thị trường khi gia nhập WTO

Khi Việt Nam đàm phán gia nhập WTO, Hoa Kỳ là thành viên đưa ra yêu cầu nhằm đưa một phương pháp thay thế vào nội dung cam kết gia nhập để tính toán giá trị thông thường trong điều tra chống bán phá giá có liên quan tới các nhà xuất khẩu Việt Nam. Mặc đã đấu tranh trong quá trình đàm phán, nhưng cuối cùng Việt Nam phải chấp nhận cam kết thời gian bị phân biệt đối xử là 12 năm (cho đến 2018). Cam kết này được quy định chi tiết tại đoạn 255 của Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO như sau:

“Đại diện của Việt Nam xác nhận rằng ngay sau khi gia nhập WTO, Điều VI của GATT 1994, Hiệp định Thực hiện Điều VI của GATT 1994 (Hiệp định chống bán phá giá - ADA) và Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM) sẽ được áp dụng trong các vụ kiện liên quan đến xuất khẩu hàng hoá từ Việt Nam sang một Thành viên WTO phù hợp với các điểm sau:

(a) Khi tiến hành so sánh giá theo Điều VI của GATT 1994 và Hiệp định chống bán phá giá, Thành viên WTO là nước nhập khẩu phải sử dụng hoặc là giá hoặc chi phí ở Việt Nam đối với ngành hàng đang được điều tra hoặc là một phương pháp không dựa trên sự so sánh chặt chẽ với chi phí hoặc giá cả ở Việt Nam. Quy tắc để lựa chọn phương pháp phù hợp là:

(i) Nếu các nhà sản xuất trong diện điều tra có thể chỉ ra rõ ràng rằng các điều kiện của nền kinh tế thị trường đang tồn tại trong ngành sản xuất mặt hàng tương tự liên quan đến sản xuất và bán mặt hàng đó, nước nhập khẩu là Thành viên WTO khi xác định giá tương đối phải sử dụng giá và chi phí ở Việt Nam cho ngành sản xuất trong diện điều tra.

(ii) Nước nhập khẩu là Thành viên WTO có thể sử dụng một phương pháp không dựa trên sự so sánh chặt chẽ với giá cả và chi phí ở Việt Nam nếu các nhà sản xuất thuộc diện điều tra không thể chỉ ra rõ ràng rằng các điều kiện của nền kinh tế thị trường đang tồn tại trong ngành sản xuất mặt hàng tương tự liên quan đến sản xuất và bán mặt hàng đó.

(b) Trong các vụ kiện tiến hành theo phần II, III và V của Hiệp định SCM, khi xử lý vấn đề trợ cấp, các quy định của Hiệp định SCM sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, nếu có những khó khăn đặc biệt cản trở việc áp dụng các quy định đó, nước nhập khẩu là Thành viên WTO có thể sử dụng các phương pháp khác nhằm xác định và đo lường tác động của trợ cấp, có cân nhắc đến khả năng các điều kiện đang tồn tại phổ biến ở Việt Nam có thể không phải là những cơ sở đối chiếu phù hợp.

……..

(d) Một khi Việt Nam khẳng định được rằng nền kinh tế nước mình là kinh tế thị trường chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là Thành viên WTO, các quy định tại tiểu mục (a) sẽ hết hiệu lực với điều kiện luật quốc gia của nước Thành viên có quy định các tiêu chí về kinh tế thị trường tại thời điểm gia nhập. Trong mọi trường hợp, các quy định trong tiểu mục (a)(ii) sẽ hết hiệu lực vào ngày 31/12/2018. Ngoài ra, nếu Việt Nam khẳng định được rằng các điều kiện của kinh tế thị trường tồn tại ở một ngành cụ thể chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là Thành viên WTO, các quy định trong tiểu mục (a) liên quan tới kinh tế phi thị trường sẽ không còn được áp dụng cho ngành đó.”

            Tuy nhiên, việc liệu Việt Nam có thực sự được đối xử bình đẳng như các nền kinh tế thị trường khác sau thời hạn cam kết 2018 trong báo cáo gia nhập WTO hay không vẫn còn đang gây tranh cãi bởi nguy cơ có khả năng các thành viên WTO chủ chốt vẫn tiếp tục tìm cách tận dụng các diễn giải lỏng lẻo, mang tính tùy nghi trong Hiệp định GATT để duy trì sự phân biệt đối xử không công bằng với các nền kinh tế phi thị trường.

II.            Các quy định đối với nền kinh tế thị trường của các nước

Việc công nhận một nước có nền kinh tế thị trường (market economy status – “MES”) được phân tích và đánh giá trên cơ sở hệ thống các tiêu chí được quy định trong nội luật của mỗi nước. Một số nước có quy định nội luật về vấn đề này như: Hoa Kỳ, EU, Canada, Brazil, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina, Ấn Độ, Nhật Bản…vv. Trong đó, Việt Nam đặc biệt quan tâm đến các quy định của Hoa Kỳ và EU. Đây là hai đối tác thương mại lớn và quan trọng của Việt Nam, đồng thời có khả năng liên quan nhiều nhất đến các vụ việc điều tra chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.

1.     Quy định của Hoa Kỳ

Theo Đạo luật Chống bán phá giá của Hoa Kỳ, các nước sẽ mặc nhiên được coi là nền kinh tế thị trường trừ khi Hoa Kỳ chính thức coi nước đó có nền kinh tế phi thị trường. Đối với nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường, Hoa Kỳ cho rằng việc kiểm soát, chi phối của nhà nước trong nền kinh tế sẽ làm cho việc so sánh giá và tính toán chi phí sản xuất không chính xác. Do vậy, theo quy định tại Section 773(c) Đạo luật Thuế quan 1930, trong điều tra chống bán phá giá đối với các nền kinh tế phi thị trường, để đánh giá các yếu tố chi phí sản xuất, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) sẽ tính toán giá trị thông thường thông qua các thông số dữ liệu của nước thay thế có nền kinh tế thị trường (surrogate country).[6] DOC sẽ dựa trên mức độ phát triển kinh tế để lựa chọn nước thay thế, cụ thể là chỉ số GDP đầu người của nước thay thế đó. Các yếu tố về chi phí sản xuất, chi phí chung, lợi nhuận sẽ được dựa trên các thông tin số liệu công khai của nước thay thế (trừ chi phí lao động).[7] Trong trường hợp nước có nền kinh tế phi thị trường sử dụng đầu vào từ nước có nền kinh tế thị trường khác (theo đồng tiền của nước có nền kinh tế thị trường), thì Hoa Kỳ sẽ sử dụng giá này cho phần yếu tố đầu vào còn lại của nền kinh tế phi thị trường.[8]

Để được Hoa Kỳ công nhận là một nước có nền kinh tế thị trường, Chính phủ nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường phải gửi một yêu cầu chính thức trong đó đề nghị rà soát quy chế kinh tế thị trường của nước đó hoặc chính phủ ủng hộ doanh nghiệp bị đơn nước mình trong vụ việc điều tra chống bán phá giá riêng biệt chứng minh nền kinh tế thị trường.[9] Khi nhận được yêu cầu đó, DOC sẽ tiến hành phân tích sáu tiêu chí quy định tại Section 771(18)(B) của Đạo luật chống bán phá giá.[10]

Tiêu chí xác định một ngành hoạt động theo cơ chế thị trường

Trong một vụ kiện chống bán phá giá, nếu nước xuất khẩu chưa được DOC công nhận là nước có nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nước đó có thể yêu cầu DOC xem xét việc hoạt động theo cơ chế thị trường của ngành sản xuất đó.

Theo quy định tại Section 773(c)(1) của Đạo luật Thuế quan 1930, trong một số trường hợp nhất định, DOC được áp dụng phương pháp tính toán áp dụng cho nền kinh tế thị trường đối với một ngành cụ thể trong vụ việc điều tra hoặc rà soát chống bán phá giá khi thỏa mãn các tiêu chí xác định một ngành theo định hướng thị trường.[11]

Theo quy định của Hoa Kỳ, đối với các nền kinh tế phi thị trường, DOC cho rằng tất cả doanh nghiệp trong trong nền kinh tế này hoạt động như một thực thể thống nhất có sự kiểm soát của chính phủ (government-wide entity). Do đó mức thuế chống bán phá giá cho các doanh nghiệp này là duy nhất (single anti-dumping rate) và đây được gọi là mức thuế suất toàn quốc (country-wide rate hoặc NME-wide rate). Thông thường mức thuế suất toàn quốc sẽ dựa trên cơ sở dữ liệu sẵn có bất lợi (adverse facts available) nếu như một số nhà xuất khẩu trong nền kinh tế phi thị trường không trả lời bản câu hỏi trong vụ điều tra chống bán phá giá.

Theo quy định của cả WTO và Hoa Kỳ, biên độ phá giá dùng để xác định mức thuế chống bán phá giá riêng rẽ (separate rate) sẽ tự động áp dụng cho từng nhà xuất khẩu trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đối với nước có nền kinh tế phi thị trường thì các nhà xuất khẩu bị điều tra sẽ phải “vượt qua bài kiểm tra mức thuế riêng rẽ” (pass a separate rate test) nếu muốn đạt được mức thuế riêng rẽ khác với mức thuế toàn quốc. Để có được mức thuế riêng, các nhà xuất khẩu phải chứng minh được trên thực tế (de facto) hoặc theo quy định pháp luật (de jure) chính phủ không kiểm soát các hoạt động xuất khẩu.

Như vậy, theo pháp luật Hoa Kỳ, đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường, có 3 loại mức thuế áp dụng trong các vụ điều tra áp thuế chống bán phá giá, bao gồm: mức thuế suất cụ thể áp dụng cho từng bị đơn bắt buộc (separate rate); mức thuế suất chung áp dụng cho các bị đơn tự nguyện tham gia nhưng không phải là bị đơn bắt buộc (all others rate); và mức thuế suất toàn quốc (country wide rate) dành cho các doanh nghiệp còn lại.

2. Quy định của Liên minh Châu Âu

Tiêu chí Đối xử kinh tế thị trường (Market Economy Treatment - MET) đối với một doanh nghiệp 

Liên minh Châu Âu (EU) không quy định thế nào là một nền kinh tế phi thị trường mà chỉ liệt kê các nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Theo quy định số 384/1996 của EC, có 15 nước bị coi là các nền kinh tế phi thị trường và phân ra thành 3 nhóm chính.[12] Đối với các nước thuộc nhóm 1 và 2 như Trung Quốc, Việt Nam thì doanh nghiệp bị đơn trong điều tra chống bán phá giá có thể yêu cầu “Đối xử kinh tế thị trường” (Market Economy Treatment – MET), tức là khi cơ quan điều tra tính toán giá trị thông thường (normal value) sẽ dựa trên số liệu về giá cả và chi phí của nước bị đơn.

Theo quy định của EU, nếu doanh nghiệp được hưởng MET thì sẽ được đối xử tương tự như các doanh nghiệp của các quốc gia có nền kinh tế thị trường. Trong trường hợp đó, doanh nghiệp sẽ phải chứng minh 5 tiêu chí mà EU đưa ra.[13]

Tiêu chí Đối xử riêng rẽ (Individual Treatment - IT) đối với một doanh nghiệp

Trong trường hợp doanh nghiệp bị điều tra không được hưởng MET thì có thể yêu cầu được đối xử riêng rẽ (IT). Điều này có nghĩa doanh nghiệp phải chứng minh rằng quyết định liên quan đến xuất khẩu của doanh nghiệp đó không bị bóp méo bởi sự can thiệp của chính phủ. Theo Điều 9(5) Quy định cơ bản của EC, để chứng minh được điều đó, doanh nghiệp cần phải thỏa mãn 5 tiêu chí của EC.[14]

Nếu doanh nghiệp được hưởng MET, việc tính toán giá trị thông thường sẽ dựa trên số liệu do các doanh nghiệp xuất khẩu cung cấp. Do đó, biên độ phá giá sẽ là mức khác biệt giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường. Nếu như doanh nghiệp bị điều tra không được hưởng MET thì theo quy định của EU, doanh nghiệp còn có một cơ hội nữa để tránh việc tính toán biên độ phá giá dựa trên so sánh giữa giá trị thông thường (tính toán theo phương pháp áp dụng đối với nền kinh tế phi thị trường) và giá xuất khẩu bình quân của tất cả các nhà xuất khẩu - đó là yêu cầu được hưởng IT. Các nhà xuất khẩu được hưởng IT sẽ được tính toán biên độ phá giá thông qua việc so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu của từng nhà xuất khẩu đó, thay vì giá bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu sang EU. Tuy nhiên, khi số lượng các nhà xuất khẩu là rất lớn, cơ quan điều tra có thể phải sử dụng việc chọn mẫu (sampling). Điều này có nghĩa mức thuế đối với các nhà xuất khẩu không thuộc mẫu (và đáp ứng các điều kiện nói trên về đối xử riêng rẽ) sẽ dựa trên thuế bình quân gia quyền của các nhà xuất khẩu nằm trong mẫu đáp ứng điều kiện được đối xử riêng rẽ.

Tiêu chí xác định một nước có nền kinh tế thị trường

Pháp luật của EU không có quy định về tiêu chí xác định một nước có nền kinh tế phi thị trường hay nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, EC cho rằng các nền kinh tế phi thị trường thuần túy trên góc độ quốc gia mà ở đó Nhà nước kiểm soát hoàn toàn và trực tiếp các phương tiện sản xuất và phân phối là hiếm có, mà phổ biến là trường hợp các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi hướng tới nền kinh tế thị trường. Trong những nền kinh tế này, chi phí và giá cả, xét ở góc độ rộng, vẫn không có sự điều khiển của các xung lực thị trường, thay vào đó, sự can thiệp của chính phủ trực tiếp hay gián tiếp sẽ bóp méo giá trị. Các cơ chế như khung pháp lý và tổ chức cần phải được thiết lập, cho phép doanh nghiệp hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.

Với quan điểm này, dựa trên 5 tiêu chí về MET tại điều 2.7 của Quy định cơ bản, EC đã vận dụng để quy định 5 tiêu chí tạo cơ sở cho việc đánh giá các yếu tố quan trọng cần phải có của một nền kinh tế chuyển đổi. Thông lệ này được EC sử dụng để đánh giá khi các quốc gia vẫn bị EU coi là nền kinh tế phi thị trường yêu cầu công nhận nền kinh tế thị trường trong bối cảnh các vụ kiện chống bán phá giá.[15]

Trái với các tiêu chí về yêu cầu MET hoặc IT của doanh nghiệp theo Điều 2.7(b) và (c) của Quy định cơ bản mà theo đó mỗi tiêu chí cụ thể phải được chứng minh hoàn tất riêng, trong tiêu chí xác định một nền kinh tế thị trường, việc đánh giá sẽ đưa ra bức tranh tổng thể để quyết định công nhận nền kinh tế trên toàn bộ các mặt của nền kinh tế có hoạt động theo cơ chế thị trường hay không. Điều đó có nghĩa nếu như một vài yếu tố không hoàn thiện sẽ không nhất thiết dẫn đến kết luận tiêu cực cho toàn bộ nền kinh tế, khác với sự đánh giá từng tiêu chí trong MET hay IT.

Ngoài Hoa Kỳ và EU, một số thành viên WTO khác như Canada, Thổ Nhĩ Kỳ cũng có quy định nội luật liến quan đến vần đề kinh tế phi thị trường. Theo quy định của Canada, trong một cuộc điều tra chống bán phá giá, việc tính toán biên độ bán phá giá của hàng hóa từ quốc gia “phi thị trường” phải được xác định bằng cách sử dụng quy tắc đặc biệt thông qua việc xác định giá trị thông thường bằng cách sử dụng giá và chi phí của hàng hóa tương tự ở nước thứ ba.[16] Theo quy định này, trách nhiệm chứng minh doanh nghiệp bị đơn hoạt động trong nước có nền kinh tế phi thị trường thuộc về nguyên đơn trong từng vụ việc cụ thể.

Thổ Nhĩ Kỳ đưa ra các tiêu chí để xác định một doanh nghiệp được hưởng quy chế kinh tế thị trường nhằm xác định giá trị thông thường trong các cuộc điều tra chống bán phá giá đối với các mặt hàng nhập khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị trường. Nếu doanh nghiệp chứng minh đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định thì sẽ được công nhận là hoạt động theo điều kiện kinh tế thị trường.[17]

Cho đến nay, đã có 59 thành viên WTO công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, trong số đó bao gồm một số nền kinh tế lớn như: 9 nước ASEAN, Trung Quốc, Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Nga...[18] Hình thức công nhận chủ yếu thông qua con đường ngoại giao như Thông cáo chung, Tuyên bố chung, Bản ghi nhớ hay Công hàm.

III.           Tác động của các quy định về nền kinh tế phi thị trường đối với các vụ việc chống bán phá giá

1. Hiệp đinh Chống bán phá giá của WTO

            Theo Điều 2.1 Hiệp định Chống bán phá giá của WTO, một sản phẩm bị coi là bán phá giá khi sản phẩm đó được đưa vào lưu thông thương mại của một nước với giá thấp hơn giá thông thường của sản phẩm đó nếu giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường. Việc áp thuế chống bán phá giá đối với một mặt hàng nhập khẩu bị coi là phá giá tại một thị trường tuỳ thuộc vào biên độ phá giá của hàng hoá đó.

Điều 2.4.2 Hiệp định Chống bán phá giá quy định, việc xác định biên độ phá giá thông thường sẽ được tính dựa trên cơ sở so sánh giữa giá trị bình quân gia quyền giá trị thông thường với giá bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được (W-W) hoặc thông qua so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở từng giao dịch (T-T). Công thức chung tính biên độ phá giá như sau:[19]

Giá trị thông thường được điều chỉnh – Giá xuất khẩu được điều chỉnh

            -------------------------------------------------------------                     x 100 = % biên độ phá giá

      Giá xuất khẩu được điều chỉnh

2. Tình hình các vụ kiện chống bán phá giá ở Việt Nam

Cho đến thời điểm hiện nay (12/2015) Việt Nam đã chịu 61 vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài.[20] Các vụ việc có chiều hướng gia tăng và tăng mạnh trong những năm gần đây. Bảng dưới đây thể hiện các vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam:

Bảng 1: Số lượng các vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài (tính theo năm, đến tháng 12/2015):

Nguồn: VCA  

Các nước điều tra áp thuế chống bán phá giá đối với Việt Nam dẫn đầu như Hoa Kỳ, Ấn Độ, EU, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, Brazil, Malaysia, Thái Lan.... Bảng dưới đây thể hiện tình hình các nước tiến hành điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Bảng 2: Các vụ điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam (tính theo nước, đến tháng 12/2015):

Nguồn: VCA

3. Tác động của các quy định về nền kinh tế phi thị trường đối với các doanh nghiệp Việt Nam

3.1. Gia tăng nguy cơ đánh trùng thuế (double counting)

Hai trong các nguyên tắc cơ bản của WTO là: (i) mức thuế phải được áp một cách bình đẳng đối với tất cả các thành viên dựa trên nguyên tắc Đối xử Tối huệ quốc (MFN),[21] và (ii) cam kết thuế trần (bound rate) sẽ không được tăng trừ phi các thành viên đàm phán với nhau.[22] Tuy nhiên, WTO vẫn có một số ngoại lệ đối với hai nguyên tắc cơ bản nêu trên, hai trong số đó là biện pháp chống bán phá giá và biện pháp thuế đối kháng.

Hiện nay, nhiều thành viên WTO có xu hướng điều tra cùng một lúc hai biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với cùng một sản phẩm của một nước có nền kinh tế phi thị trường mặc dù Hiệp dịnh GATT 1994 không cho phép việc đánh trùng thuế lên cùng một sản phẩm.[23] Đây bị coi là một hành vi thương mại không công bằng.

Thông thường, đối với nước có nền kinh tế thị trường, khi cùng áp dụng biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp đối với một mặt hàng cụ thể từ nước có nền kinh tế thị trường, DOC tiến hành cộng thêm đủ mức thuế đối kháng để loại bỏ trợ cấp xuất khẩu trên giá xuất khẩu của sản phẩm. Lý do cho sự điều chỉnh này là DOC giả định rằng trợ cấp xuất khẩu có tác động làm giảm giá của hàng hóa xuất khẩu; nếu không có sự điều chỉnh này, hàng hóa xuất khẩu được hưởng lợi từ trợ cấp xuất khẩu sẽ chịu hình phạt kép.

Tuy nhiên, đối với nước có nền kinh tế phi thị trường thì áp dụng hai loại thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp mang lại một kết quả khác. Cụ thể, trong thực tiễn điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ cũng như EU, DOC hay EC đã sử dụng nước thay thế. Với phương pháp sử dụng số liệu nước thay thế này, chi phí sản xuất và giá nội địa của nền kinh tế phi thị trường cũng đã bị loại bỏ và và được thay thế bởi chi phí và giá nội địa của nước thay thế mà có nền kinh tế thị trường. Như vậy, trừ phi cơ quan điều tra đã điều chỉnh giá trị thông thường để phản ánh tác động của trợ cấp nội địa của nước phi thị trường bị điều tra, cơ quan điều tra sẽ so sánh giữa giá trị thông thường cao hơn so với mức giá xuất khẩu. 

3.2  Nguy cơ bị tính toán bất lợi trong điều tra áp thuế chống bán phá giá và tác động đến tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam

Kể từ khi gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam đã thể hiện những bước tiến quan trọng trong nỗ lực tự do hóa thương mại, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường với việc ký kết hàng loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA).[24] Việc tích cực tham gia đàm phán và ký kết các Hiệp định FTA đã mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam.  Một trong các cơ hội đó là sự gia tăng xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam.[25] Tuy nhiên sự gia tăng xuất khẩu này cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức, cụ thể là nguy cơ các nước kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng gia tăng.

Như đã đề cập ở trên, do Việt Nam vẫn bị nhiều nước đối tác coi là nước có nền kinh tế phi thị trường, nên trong các vụ việc điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá, cơ quan điều tra sẽ sử dụng phương pháp dùng dữ liệu của nước thay thế (surrogate country) có nền kinh tế thị trường để tính mức thuế chống bán phá giá cho nền kinh tế phi thị trường. Cách tính toán này không phản ánh giá trị thực của hàng hóa bị điều tra và làm thổi phồng biên độ phá giá, dẫn đến thuế chống bán phá giá cao hơn so với giá thực tế. Vì vậy Việt Nam luôn ở vào thế bất lợi và gặp nhiều khó khăn khi kháng kiện các vụ việc chống bán phá giá. Trong nhiều vụ việc, hàng hóa của Việt Nam bị đánh thuế chống bán phá giá rất với mức thuế chống bán phá giá “hủy diệt” lên đến vài trăm phần trăm, đặc biệt trong các vụ điều tra áp thuế của Hoa Kỳ.

Bảng 3: Vụ việc và mặt hàng bị điều tra áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp của Hoa Kỳ đối với Việt Nam (tính đến 12/2015):

Năm

Vụ việc Chống bán phá giá

Vụ việc Chống trợ cấp

Kết luận cuối cùng

2002

Cá tra, cá Ba-sa

 

36,84% - 63,88%

2003

Tôm

 

4,13% - 25.76%

2008

Lò xo đệm không bọc

 

116,31%

2009

Túi PE

 

52.30% - 76.11%

 

Túi PE

0.44% - 52.56%

2011

Ống thép cuộn Cacbon

 

Không áp thuế

 

Ống thép cuộn Cacbon

Không áp thuế

2012

Tháp gió (Turbin)

 

51.50% - 58.49%

2012

Mắc áo thép

 

157% - 220.68%

 

Mắc áo thép

31.58% - 90.42%

2013

 

Tôm nước ấm đông lạnh

Không áp thuế

2013

Thép chịu lực không gỉ

 

16.25%

2013

Ống dẫn dầu

 

24.22% - 111.47%

2014

Đinh thép

 

323.99%

 

Đinh thép

288.56% - 313.97%

Nguồn: VCA

Bảng 4: Vụ việc và mặt hàng bị điều tra áp thuế chống bán phá giá của EU đối với Việt Nam (tính đến 12/2015):

Năm

Sản phẩm bị điều tra áp thuế

Kết luận cuối cùng

Ghi chú

1998

Giày dép

Không áp thuế

Vụ kiện chấm dứt do không gây thiệt hại cho ngành công nghiệp nội địa EU

2002

Bật lửa gas

Không áp thuế

12/9/2003 EC thông báo chấm dứt vụ việc do bên khởi kiện rút đơn kiện.

2004

Xe đạp

15,8% - 34,5%

13/7/2010 EC thông báo không tiến hành điều tra rà soát cuối kỳ đối với xe đạp nhập khẩu của Việt Nam.

2004

Ống tuýp thép

Không áp thuế

Vụ kiện chấm dứt do bên khởi kiện rút đơn kiện

2004

Ốc vít bằng thép và phụ tùng

7,7%

Vụ việc chấm dứt

2005

Giày mũ da

10%

16/3/2011, EC thông báo chấm dứt áp dụng biện pháp CBPG

Nguồn: VCA

Vụ việc Hoa Kỳ điều tra chống bán phá giá cá tra – basa của Việt Nam: sản phẩm cá tra – basa xuất khẩu của Việt Nam đã bị áp thuế chống bán phá giá kể từ năm 2003, và kể từ đó đến nay DOC đều tiến hành các đợt rà soát hành chính thuế chống bán phá giá. Do Việt Nam vẫn bị Hoa Kỳ coi là nước có nền kinh tế phi thị trường nên nhân tố gây ảnh hưởng đến việc xác định biên độ phá giá là việc lựa chọn nước thay thế để sử dụng số liệu tính toán.

Đối với đợt rà soát hành chính lần thứ 6 (POR6), DOC thông báo thuế suất sơ bộ ở mức từ $2.44 - 4.22/kg với việc sử dụng Philippines làm nước thay thế, Việt Nam đã kết hợp công tác kỹ thuật và vận động nên DOC đã sử dụng Bangladesh là nước thay thế và thuế suất cuối cùng còn $0.00 /kg. Tương tự đối với POR7, khi DOC thông báo thuế suất sơ bộ ở mức $0.56 /kg với việc sử dụng Indonesia làm nước thay thế, Việt Nam cũng đã vận động khiến DOC sử dụng Bangladesh làm nước thay thế trong quyết định cuối cùng, và mức thuế giảm xuống $0.00 /kg.

Tuy nhiên đối với POR8, trong quyết định sơ bộ DOC vẫn lựa chọn Bangladesh làm nước thay thế dẫn đến thuế suất sơ bộ của các bị đơn bắt buộc và tự nguyện Việt Nam rất tích cực (đều bằng $ 0.00/kg). Tuy nhiên sau đó, DOC đã thay đổi việc lựa chọn nước thay thế và chọn Indonesia làm nước thay thế để xác định thuế suất cuối cùng. Mức thuế tại quyết định cuối cùng này so với mức thuế sơ bộ đã tăng từ 0.00 $/kg lên 0.19 $/kg và 1.34 $/kg (đối với bị đơn bắt buộc) và từ 0.00 $/kg lên 0.77 $/kg (đối với bị đơn tự nguyện) và cũng cao hơn mức thuế cuối cùng của POR7.

Trong POR9, DOC lựa chọn nước thay thế Indonesia thay vì Bangladesh, mức thuế cuối cùng của đợt rà soát lần thứ 9 (POR9) thấp hơn so với mức thuế cuối cùng của POR8 (giảm từ $0,19/kg xuống $0,00/kg; từ $2,39/kg xuống $1,20/kg đối với 02 bị đơn bắt buộc và từ $1,29/kg xuống $1,20/kg đối với các bị đơn tự nguyện). Tương tự, mức thuế cuối cùng của POR10 thấp hơn mức thuế cuối cùng của POR9 (giảm từ $1,20/kg xuống $0,97/kg đối với công ty bị đơn bắt buộc và các doanh nghiệp bị đơn tự nguyện). Đặc biệt, công ty Vĩnh Hoàn, một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cá tra - basa lớn nhất của Việt Nam với tỷ trọng xuất khẩu chiếm khoảng 40% tổng lượng xuất khẩu cá tra - basa của Việt Nam sang Hoa Kỳ, nhận được mức thuế sơ bộ là 0% trong POR9 và POR10.

Trong vụ việc Hoa Kỳ điều tra áp dụng một số biện pháp áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng tôm nước ấm đông lạnh xuất khẩu từ Việt Nam, do Việt Nam vẫn bị Hoa Kỳ coi là nền kinh tế phi thị trường nên trong quá trình điều tra vụ việc, DOC đã áp dụng thuế suất toàn quốc đối với toàn bộ doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam với lý do hoạt động của các doanh nghiệp này không có sự độc lập với Chính phủ. Mức thuế cao nhất áp dụng cho doanh nghiệp bị đơn Việt Nam trong vụ việc này lên đến 25,67%. Với mức thuế này, doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam phải chịu mức đặt cọc (bond) rất lớn khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Việt Nam đã khiếu kiện Hoa Kỳ liên quan đến một số biện pháp chống bán phá trong đó có biện pháp áp dụng thuế suất toàn quốc này ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Theo báo cáo cuối cùng của vụ việc, Ban Hội thẩm đã kết luận Hoa Kỳ có các hành vi vi phạm các điều khoản của Hiệp định Chống bán phá giá và Hiệp định GATT 1994 đối với khiếu kiện này của Việt Nam.

Như vậy, nếu như doanh nghiệp không bỏ một số tiền lớn (hàng trăm ngàn đô la Mỹ) để thuê luật sư để khiếu kiện Hoa Kỳ trong vụ việc liên quan đến sản phẩm tôm này ra cơ quan giải quyết tranh chấp WTO thì các doanh nghiệp có liên quan trong vụ việc phải chịu một mức thuế chống bán phá giá cao (theo VASEP đây là mức thuế chống bán phá giá cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây). Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình sản xuất và xuất khẩu tôm của các doanh nghiệp Việt Nam. Họ hoặc là phải tăng giá thành sản phẩm, đồng nghĩa với khả năng có thể giảm lượng khách hàng nhập khẩu hoặc có thể bị thiệt hại do đã ký các hợp đồng xuất khẩu trước đó với khách hàng với giá chưa bao gồm thuế chống bán phá giá này. Tình trạng xấu hơn là các doanh nghiệp phải thay đổi thị trường xuất khẩu, mặc dù Hoa Kỳ luôn là thị trường chính nhập khẩu mặt hàng này.

Trong vụ việc Hoa Kỳ điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp (kiện kép) đối với sản phẩm đinh thép từ một số nước trong đó có Việt Nam, cũng với lý do Việt Nam bị coi là nước có nền kinh tế phi thị trường nên trong quá trình điều tra DOC đã sử dụng nước thay thế trong tính toán giá trị đầu vào, kết quả là mức thuế chống bán phá giá DOC áp dụng cho các doanh nghiệp bị đơn Việt Nam lên đến 323,99% và mức thuế chống trợ cấp từ 288.56% - 313.97%. Đây có thể coi là mức thuế “hủy diệt” đối với các doanh nghiệp bị đơn. Với mức thuế này, doanh nghiệp không thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này để xuất khẩu cho các đối tác trước nữa, trong khi đó, theo doanh nghiệp thì Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu lớn nhất và chủ yếu của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa doanh nghiệp phải từ bỏ thị trường Hoa Kỳ đối với sản phẩm đinh thép đã bị áp thuế này. Vụ việc Hoa Kỳ điều tra chống bán phá giá đối với mặt hàng mắc áo thép xuất xứ từ Việt Nam cũng xảy ra tình trạng tương tự với vụ việc đinh thép nêu trên.

Lời kết

            Trong bối cảnh Việt Nam vẫn bị coi là nước có nền kinh tế phi thị trường theo cam kết trong WTO, hơn nữa các đối tác thương mại lớn và là thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam như Hoa Kỳ và EU vẫn chưa công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu Việt Nam đã, đang và vẫn sẽ bị thiệt hại do việc áp dụng phương pháp tính giá trị thay thế từ nước thứ ba để tính toán giá trị thông thường trong các vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài. Do vậy, các doanh nghiệp cần chủ động tích cực và đặt ra các phương án giải quyết, đấu tranh đem lại lợi ích chính đáng cho doanh nghiệp mình trong các cuộc điều tra chống bán phá giá của các cơ quan điều tra nước ngoài, đặc biệt là các vụ điều tra thuộc các nước vẫn chưa công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam.

Một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam:

(i) Nâng cao sự hiểu biết về pháp luật chống bán phá giá:

Các doanh nghiệp nên có một bộ phận chuyên trách về pháp lý đặc biệt liên quan đến lĩnh vực pháp luật chống bán phá của WTO và của các nước đối tác nhập khẩu thường xuyên của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp nên tích cực tham gia các hội thảo, khóa đào tạo chuyên về pháp luật chống bán phá giá của WTO và của một số nước đã thực hiện áp dụng nhiều vụ điều tra áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với hàng xuất khẩu Việt Nam như pháp luật của Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, hay EU do các cơ quan có thẩm quyền hoặc các văn phòng luật tổ chức.

(ii) Chuẩn bị và chọn lọc các văn phòng/công ty luật có uy tín, có kinh nghiệm trong các vụ việc chống bán phá giá liên quan đến nền kinh tế phi thị trường:

Trong các vụ điều tra chống bán phá, cụ thể trong quá trình tính toán biên độ phá giá, để giá trị thông thường được tính sát với giá thực tế nhằm mang lại lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp, ngoài nguồn lực sẵn có, các doanh nghiệp nên thuê dịch vụ tư vấn pháp lý của các văn phòng/công ty luật, đặc biệt là các văn phòng/công ty luật có kinh nghiệm tư vấn cho các khách hàng thuộc nền kinh tế phi thị trường. Tốt hơn hết, nên là các văn phòng/công ty luật tại nước điều tra có chi nhánh hoặc có liên kết với văn phòng/công ty luật Việt Nam. Vì hơn ai hết các công ty này vừa có vốn hiểu biết về quy định, quy trình, thủ tục liên quan đến pháp luật chống bán phá giá nước mình lại vừa có những thông tin, dữ liệu và trợ giúp từ văn phòng hoặc liên kết của họ ở Việt Nam. Đồng thời, những văn phòng/công ty luật này cũng có những kinh nghiệm hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc nền kinh tế phi thị trường trong các vụ điều tra chống bán phá giá của cơ quan điều tra nước họ. Do vậy, bộ phận pháp lý của doanh nghiệp nên có sẵn danh sách và thông tin về các văn phòng/công ty luật của nước sở tại nơi doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa tới thị trường nước đó để có thể sử dụng dịch vụ tư vấn khi cần.

(iii) Tăng cường sự liên kết với các cơ quan chức năng, vận động Hoa Kỳ lựa chọn nước thay thế có lợi:

Trong quá trình giải quyết vụ việc chống bán phá giá, các doanh nghiệp nên có sự liên kết chặt chẽ với các cơ quan chức năng như Cục Quản lý cạnh tranh (VCA), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), và Hiệp hội của ngành mình để có các thông tin cập nhật, kinh nghiệm cũng như phương hướng xử lý vụ việc. Đặc biệt, việc tăng cường liên kết này cũng sẽ giúp doanh nghiệp có được các thông tin về các vấn đề có liên quan đến vụ việc như mối quan hệ chính trị, thương mại giữa Việt Nam và nước điều tra, tình hình công nhận nền kinh tế thị trường đối với Việt Nam của nước điều tra, và đề nghị các cơ quan chức năng xem xét tiến hành vận động cơ quan điều tra lựa chọn nước thay thế có lợi.

(iv) Chủ động yêu cầu cơ quan điều tra xem xét việc hoạt động theo cơ chế thị trường của ngành sản xuất đang bị điều tra:

Nhằm tránh bị các cơ quan điều tra áp dụng phương pháp nước thay thế (surrogate country) khi tính toán giá trị thông thường trong tính toán biên độ phá giá và giảm nguy cơ bị đánh trùng thuế trong các vụ kiện kép (AD-CVD), các doanh nghiệp cần chứng minh ngành sản xuất của mình hoạt động một cách độc lập, không có sự kiểm soát của chính phủ, và theo cơ chế thị trường. Cụ thể:

- Đối với các vụ điều tra từ Hoa Kỳ, doanh nghiệp có thể yêu cầu DOC xem xét việc hoạt động theo cơ chế thị trường của ngành sản xuất của mình theo ba tiêu chí đã nêu. Tuy không phải bất cứ trường hợp nào DOC cũng sẽ xem xét nhưng Hoa Kỳ đã có quy định về vấn đề này thì doanh nghiệp vẫn nên tận dụng cơ hội để có mức thuế riêng rẽ có lợi cho doanh nghiệp.

- Đối với các vụ điều tra từ EU, các doanh nghiệp có thể xin quy chế đối xử kinh tế thị trường (MET) hoặc đối xử riêng rẽ (IT) theo năm tiêu chí của EU như đã nêu.

Để yêu cầu cơ quan điều tra xem xét việc hoạt động theo cơ chế thị trường của ngành sản xuất mình và/hoặc xin MET hoặc IT, các doanh nghiệp bị điều tra nếu không đủ nguồn lực pháp lý thì nên sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý của các công ty/văn phòng luật nước ngoài và tốt nhất là các công ty luật có văn phòng đại diện hoặc liên kết tại Việt Nam. 

 (v) Hợp tác với cơ quan điều tra để tránh bị áp mức thuế AFA:

Mức thuế AFA là mức thuế suất thường dựa trên cơ sở dữ liệu sẵn có bất lợi (adverse facts available - AFA) được các cơ quan điều tra áp dụng trong trường hợp các doanh nghiệp bị đơn không trả lời bản câu hỏi, hoặc không hợp tác trong quá trình điều tra chống bán phá giá. Do vậy, trong quá trình điều tra vụ việc chống bán phá giá, các doanh nghiệp bị đơn cần hợp tác chặt chẽ với cơ quan điều tra và trả lời bản câu hỏi đủ và đúng thời hạn.

Ngoài các khuyến nghị nêu trên, để tránh liên quan đến các vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài, các nhà sản xuất, xuất khẩu Việt Nam cũng nên cân nhắc việc tăng giá xuất khẩu của sản phẩm bằng cách đưa các giá trị gia tăng vào sản phẩm như cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng nên nghiên cứu kỹ thị trường, đa dạng hóa sản phẩm và thị trường xuất khẩu.

 Luật sư/ Thạc sĩ Phạm Vân Thành



[1] TS. Phan Thế Hè, Tạp chí Khoa học chính trị - Số 4/2015, trang 33.

[2] Khoản 1, Điều VI, GATT 1947.

[3] Điều VI của Hiệp định GATT  1947 quy định: Một sản phẩm được xem là bán tại nước nhập khẩu thấp hơn giá trị thông thường của nó nếu giá của sản phẩm xuất khẩu từ nước này sang nước khác

(a) thấp hơn giá có thể so sánh được trong điều kiện thương mại thông thường của sản phẩm tương tự tiêu dùng tại nước xuất khẩu, hoặc

(b) trong trường hợp không có giá nội địa, thì thấp hơn

(i) giá có thể so sánh được và cao nhất của sản phẩm tương tự xuất khẩu sang nước thứ ba trong điều kiện thương mại thông thường, hoặc

(ii) chi phi sản xuất của sản phẩm nước xuất xứ cộng với chi phí bán hàng và lợi nhuận

[4] Francis Snyder, “The Orgin of the non-market economy:  Ideas, Pluralism and Power in the EC anti-dumping laws about China”, European Journal of Law, Vol 7, 2001, đoạn 381.

[5] Điểm thứ 2, đoạn 1, Điều VI của Hiệp định GATT được bổ sung: “Thừa nhận rằng, trong trường hợp nhập khẩu từ một nước độc quyền hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn về thương mại và giá cả trong nước đều do Nhà nước ấn định, có thể tồn tại những khó khăn đặc biệt trong việc xác định mức độ tương thích của giá cả … trong những trường hợp đó, các nước nhập khẩu tham gia Hiệp định này thấy cần phải tính tới khả năng là việc so sánh chặt chẽ với giá cả nội địa ở một nước như vậy có lẽ không phải lúc nào cũng phù hợp”.

[6] Quy định này được pháp điển hóa tại Title 19 CFR §351.408.

[7] Để tính toán chi phí lao động, cơ quan điều tra Hoa Kỳ sẽ sử dụng mức lương dựa trên hồi quy phản ánh mối quan hệ giữa tiền lương và thu nhập quốc gia của các nước có nền kinh tế thị trường.

[8] Xem 19 CFR 351.408 (c) (1).

[9]  Phần II, Chương 10 (NME) – Import administration of DOC, Antidumping manual, 2009. 

[10] Phần 771(18)(B) của Đạo luật quy định rằng DOC phải xem xét các yếu tố sau đây khi xác định liệu một nước có bị coi là có nền kinh tế phi thị trường hay không:

(1) Mức độ mà đồng tiền của nước ngoài đó có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của các nước khác;

(2) Mức độ mà các mức tiền công lao động được xác định bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và người sử dụng lao động;

(3) Mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của các doanh nghiệp từ các nước khác được phép hoạt động trên lãnh thổ nước sở tại;

(4) Mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính phủ đối với các phương tiện sản xuất;

(5) Mức độ kiểm soát của chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp;

(6) Những yếu tố khác mà cơ quan tiến hành điều tra cho rằng phù hợp.

[11] Có ba tiêu chí xác định một ngành theo định hướng thị trường theo quy định tại Section 773(c)(1) của Đạo luật Thuế quan 1930:

 (1) Đối với hàng hóa bị điều tra hoặc rà soát, Chính phủ hầu như không can thiệp vào việc xác định giá hoặc sản lượng. Ví dụ, việc Nhà nước đặt ra một mức sản lượng nào đó hoặc đứng ra phân bổ sản xuất mặt hàng đó, dù là để xuất khẩu hay tiêu dùng nội địa tại nước có nền kinh tế phi thị trường, sẽ là một rào cản gần như không thể vượt qua trong việc chứng minh một ngành hoạt động “theo định hướng thị trường”. Tuy nhiên, quy định của Hoa Kỳ không đưa ra bất kỳ định nghĩa hay chỉ rõ mức độ can thiệp của chính phủ bao nhiêu thì được xác định là không can thiệp.

(2) Ngành sản xuất hàng hóa bị điều tra hoặc rà soát phải có đặc điểm là do tư nhân sở hữu hoặc đồng sở hữu. Có thể có doanh nghiệp nhà nước trong ngành nhưng nếu sở hữu Nhà nước chiếm đa số thì đó sẽ là một yếu tố để Hoa Kỳ không thể công nhận ngành đó hoạt động “theo định hướng thị trường”;

(3) Hầu hết đầu vào quan trọng, dù là nguyên vật liệu hay không phải nguyên vật liệu (ví dụ chi phí lao động và chi phí quản lý chung) và hầu hết đầu vào quyết định giá trị của hàng hóa đang bị điều tra hoặc rà soát phải có giá do thị trường quyết định. Ví dụ, giá của một loại đầu vào sẽ không được coi là do thị trường quyết định nếu như các nhà sản xuất hàng hóa đang bị điều tra hoặc rà soát thanh toán giá do Nhà nước quy định đối với đầu vào này hoặc nếu như đầu vào được cung cấp cho các nhà sản xuất theo chỉ đạo của Chính phủ. Hơn nữa, nếu như việc sản xuất đầu vào là do Nhà nước yêu cầu, tỷ trọng của đầu vào do Nhà nước yêu cầu phải không đáng kể.

[12]  Alexander Polouektov, “Non-Market Economy Issues in the WTO Anti-Dumping Law and Accession Negotiations Revival of a Two-tier Membership?” (2002) 36 Journal of World Trade, Issue 1,trang 1–37: ba nhóm chính bao gồm:

(i) Những nước đã thực hiện đổi mới dẫn đến sự chiếm ưu thế của các doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện kinh tế thị trường bao gồm: Trung Quốc, Việt Nam và Kazakhstan;

(ii) Bất kỳ nước có nền kinh tế phi thị trường nào là thành viên của WTO tại thời điểm khởi xướng điều tra như: Albania, Armenia, Azerbaijan, Georgia, Kyrgyzstan, Moldova và Mông Cổ;

(iii) Nền kinh tế phi thị trường khác: Belarus, Bắc Triều Tiên, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan.

[13] Năm tiêu chí được quy định tại Điều 2.7 (c) của Quy định cơ bản 1225/2009 (Basic regulation):

(1) Các quyết định của doanh nghiệp về giá, chi phí, đầu vào, kể cả nguyên liệu thô, chi phí công nghệ và nhân công, sản lượng, doanh số bán và đầu tư, được thực hiện theo cung cầu của thị trường, không có sự can thiệp rõ rệt của Nhà nước; giá của các nguyên liệu đầu vào chính, về cơ bản, thể hiện giá thị trường;

(2) Các doanh nghiệp có hệ thống sổ sách kế toán độc lập, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, được dùng cho mọi mục đích;

(3) Chi phí sản xuất và tài chính doanh nghiệp không bị bóp méo do hậu quả của hệ thống kinh tế phi thị trường trước đây, đặc biệt là đối với việc khấu hao tài sản cố định, xoá nợ, thương mại hàng đổi hàng hoặc thanh toán thông qua bù nợ;

(4) Doanh nghiệp bị điều tra chịu sự điều chỉnh của luật sở hữu và phá sản nhằm đảm bảo sự ổn định và chắc chắn về mặt pháp lý đối với hoạt động của doanh nghiệp;

(5) Tỷ giá được xác định theo giá thị trường

[14] Theo Điều 9(5) Quy định cơ bản của EC 5 tiêu chí bao gồm:

(1) Trong trường hợp các doanh nghiệp do nước ngoài sở hữu toàn bộ hoặc sở hữu một phần, các liên doanh thì các nhà xuất khẩu được tự do chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài;

(2) Giá cả và số lượng hàng xuất khẩu, điều kiện bán hàng được quyết định một cách tự do;

(3) Phần lớn cổ phần thuộc về khu vực tư nhân và các quan chức nhà nước tham gia Ban Giám đốc hoặc giữ các vị trí quản lý chủ chốt sẽ chỉ ở mức thiểu số hoặc phải chứng minh được rằng doanh nghiệp vẫn độc lập với sự can thiệp của Nhà nước;

(4) Tỷ giá chuyển đổi theo giá thị trường;

(5) Can thiệp của Nhà nước không tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu riêng rẽ có thể lẩn tránh thuế trong trường hợp nhà xuất khẩu bị áp dụng các mức thuế khác nhau.

[15] Năm tiêu chí về MET tại điều 2.7 của Quy định cơ bản của EU:

(1) Mức độ ảnh hưởng của chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và các quyết định của doanh nghiệp, bất kể gián tiếp hay trực tiếp (ví dụ như cơ quan công) thông qua nhà nước ấn định giá hay chính sách phân biệt đối xử thuế, cơ chế thương mại hay tiền tệ;

(2) Không có sự bóp méo do nhà nước gây ra trong hoạt động của doanh nghiệp liên quan tới tư nhân hóa (tức là sự chuyển tiếp từ cơ chế cũ). Không sử dụng trao đổi thương mại phi thị trường hoặc hệ thống đền bù (ví dụ hàng đổi hàng);

(3) Việc tồn tại và thực thi pháp luật doanh nghiệp minh bạch và không phân biệt đối xử đảm bảo quản trị doanh nghiệp đầy đủ (áp dụng các chuẩn mức kế toán quốc tế, bảo vệ cổ đông, công khai các thông tin doanh nghiệp một cách chính xác);

(4) Việc tồn tại và thực thi hệ thống pháp luật thống nhất, hiệu quả và minh bạch nhằm đảm bảo tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và chức năng của cơ chế phá sản;

(5) Tồn tại nền tài chính hoạt động độc lập với nhà nước theo pháp luật và trên thực tế phụ thuộc vào các quy định bảo lãnh tín dụng và giám sát đầy đủ.

[16] Điều 20 Đạo luật về các biện pháp nhập khẩu đặc biệt (Special Import Measures Act - SIMA).

[17] Quy định bổ sung điều khoản đối với Quy định về ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh trong nhập khẩu đăng trên Công báo số 24743 ngày 2 tháng 5 năm 2002.

[18] Theo số liệu cập nhật của Phòng Xử lý các vụ kiện phòng vệ thương mại của nước ngoài, Cục Quản lý cạnh tranh

[19] Judith Czako, Johann Human and Jorge Miranda “A Handbook on Anti-Dumping Investigation”, Cambridge University Press, 2004, trang 120-129.

[20]  Theo số liệu thống kê của Phòng Xử lý các vụ kiện phòng vệ thương mại của nước ngoài, Cục Quản lý cạnh tranh.

[21] Điều III - Hiệp định GATT 1947. Tuy nhiên, WTO cũng cho phép một số trường hợp ngoại lệ được miễn trừ áp dụng quy định về MFN. Chẳng hạn, hai hoặc một số nước có thể ký kết một hiệp định thương mại tự do (BFTA, RFTA), theo đó một quy chế thuế quan ưu đãi có thể chỉ được áp dụng đối với những hàng hoá trao đổi trong nội bộ hai hoặc nhóm nước đó - đây là một hình thức phân biệt đối xử đối với hàng hoá của các nước ngoài nhóm.

[22] Điều XXVIII.4 Hiệp định GATT 1947.

[23] Khoản 5 Điều VI của GATT 1994 quy định “Không một sản phẩm nào trong lãnh thổ của một bên nhập khẩu vào lãnh thổ của một bên khác sẽ cùng lúc phải chịu cả thuế bán phá giá và thuế đối kháng (thuế chống trợ cấp) để bù đắp cho cùng một khoản bán phá giá hay trợ cấp xuất khẩu”.

[24] Theo Bộ Công Thương, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết và thực hiện 13 Hiệp định FTA: ASEAN-AEC, ASEAN - Ấn Độ, ASEAN – Australia/New Zealand (ACERFTA), ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), ASEAN – Nhật Bản (AJFTA), ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) , Việt Nam – Nhật Bản (EPA), Việt Nam – Chile (VCFTA), Việt Nam – Lào, Việt Nam – Hàn Quốc(VKFTA), Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu (VCUFTA), Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), và đang đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), và Việt Nam – EFTA. 

[25] Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến tháng 11 năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt gấn 299,35  tỷ USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất hàng hóa đạt 148,24 tỷ USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước và nhập khẩu hàng hóa là 151,11 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước.

  • Tags:

Tìm từ ngày

Tìm đến ngày